Nguyễn Phúc ưng Chân
- Danh từ riêng:
- Tên một nhân vật lịch sử Việt Nam: "Nguyễn Phúc Ưng Chân" là tên húy của vua Dục Đức, vị hoàng đế thứ năm của triều Nguyễn. Ông là con nuôi trưởng của vua Tự Đức và con ruột của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y.
- Một biểu tượng của sự bất ổn chính trị: Tên ông thường gắn liền với giai đoạn đầy biến động, tranh giành quyền lực và sự suy yếu của triều đình nhà Nguyễn cuối thế kỷ 19.
- Danh từ riêng:
- Sau khi vua Tự Đức băng hà, Nguyễn Phúc Ưng Chân được di chiếu truyền ngôi.
- Cuộc đời ngắn ngủi và bi thảm của Nguyễn Phúc Ưng Chân phản ánh tình hình rối ren của triều đình Huế.
"Vua Dục Đức (Nguyễn Phúc Ưng Chân)": Cách gọi kết hợp giữa niên hiệu và tên húy, thường dùng trong văn bản lịch sử để chỉ rõ nhân vật.
- Vua Dục Đức (Nguyễn Phúc Ưng Chân) chỉ tại vị được ba ngày.
"Triều vua Dục Đức" / "Thời Nguyễn Phúc Ưng Chân": Cụm từ chỉ giai đoạn lịch sử ngắn ngủi dưới thời ông làm vua, mang tính chất chuyển giao đầy khủng hoảng.
- Triều vua Dục Đức đánh dấu sự khởi đầu cho thời kỳ "Tứ nguyệt tam vương" đầy hỗn loạn.
Dục Đức: Niên hiệu của Nguyễn Phúc Ưng Chân, thường được dùng phổ biến hơn để chỉ vị vua này.
- Lăng Dục Đức nằm ở An Cựu, thành phố Huế.
Hồng Y: Tên của thân phụ ông, Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y.
- Tự Đức: Niên hiệu của vị hoàng đế tiền nhiệm, cũng là cha nuôi của ông.
- Vua Dục Đức: Cách gọi phổ biến nhất theo niên hiệu.
- Hoàng đế Dục Đức: Cách gọi trang trọng.
"Ba ngày bá chủ": Thành ngữ ám chỉ thời gian tại vị cực ngắn của ông, tương tự như các trường hợp khác trong lịch sử.
- Số phận của Nguyễn Phúc Ưng Chân khiến người ta nhớ đến câu "ba ngày bá chủ".
"Tứ nguyệt tam vương" (Bốn tháng ba vua): Cụm từ lịch sử chỉ giai đoạn hỗn loạn năm 1883-1884 với ba vị vua thay nhau lên ngôi trong thời gian rất ngắn, mà Dục Đức là vị đầu tiên.
- Cái chết của Nguyễn Phúc Ưng Chân đã mở màn cho giai đoạn "tứ nguyệt tam vương" đầy biến động.
- (Quí sửu 1853 - Quí Mùi 1883)
- Tức vua Dục Đức, con nuôi trưởng của vua Tự Đức, con ruột của Nguyễn Phúc Hồng Y
- Sau khi Tự Đức mất, di chiếu truyền ngôi cho ông và cử Trần Tiễn Thành, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường Làm Phụ chánh đại thần, nhưng trong di chiếu có đoạn nói mắt ông có tật, Tường , Thuyết vịn vào cớ đó tuyên bố truất phế ông, triều thần ngơ ngác, chỉ có Phan Đình Phùng đứng lên phản đối, liền bị Thuyết bắt giam, cách chức rồi đuổi về quê. Sau đó Tường, Thuyết cho người ám sát Trần Tiễn Thành (X.Trần Tiễn Thành). Từ đó mọi việc triều đình đều do hai ông này quyết định cả, không ai dám phản đối, rồi đưa em vuaTự Đức là Lạng Quốc Công (tức Nguyễn Phúc Hồng Dật) lên làm vua, đặt niên hiệu là Hiệp Hòa, còn ông thì bị đem giam ở Dục Đức giảng đường rồi bị Tường, Thuyết giết vào năm 1883. Ông ở ngôi mới được 3 ngày, hưởng dương 30 tuổi